Học tập, làm theo Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
Tư tưởng Hồ
Chí Minh về đạo đức công vụ được thể hiện trong những nguyên tắc đạo đức, chuẩn
mực cơ bản bao gồm: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có tinh thần trách
nhiệm và tính kỷ luật cao; tích cực, chủ động, sáng tạo trong thi hành công vụ;
đoàn kết, thân ái, hợp tác với đồng chí, đồng nghiệp; gắn bó mật thiết với Nhân
dân. Trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu rộng, thực hiện mô hình chính quyền
địa phương 2 cấp, đòi hỏi mỗi người cán bộ, công chức cần nghiêm túc thực hành
đạo đức công vụ theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cho
cán bộ, đảng viên. Người coi đó là trọng tâm trong công tác tư tưởng của Đảng.
Thấm nhuần những tinh hoa trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức, trong đó
có đạo đức công vụ, Đảng đã ra sức xây dựng đội ngũ cán bộ có lập trường tư
tưởng, chính trị vững vàng; đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu; có ý thức tổ
chức kỷ luật; phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức công vụ được thể hiện trong những nguyên tắc đạo đức, chuẩn mực
cơ bản bao gồm:
Cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư
Cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư là những phẩm chất đạo đức cách mạng cơ bản trong
tư tưởng Hồ Chí Minh. Mỗi người cán bộ, công chức đều phải có trách nhiệm phụng
sự Nhân dân. Người nhiều lần căn dặn: “Bất kỳ ở địa vị nào, làm công tác gì,
chúng ta đều là đày tớ của nhân dân. Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu
chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải
đền bù xứng đáng cho nhân dân. Muốn làm như vậy, chúng ta phải cố gắng thực
hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công, Vô tư”.
Chủ tịch Hồ
Chí Minh giải thích: Cần là lao động cần cù, siêng năng, có sáng tạo, năng suất
cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không dựa dẫm, ỷ lại. Kiệm là
tiết kiệm thời giờ, của cải của mình và của Nhân dân, không xa xỉ, không hoang
phí, không phô trương, hình thức. Liêm là trong sạch, luôn tôn trọng, giữ gìn
của công và của dân, không tham địa vị, tiền tài. Chính là ngay thẳng, chính
trực. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh
dưới. Đối với việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng
tránh. Chí công là hết mực công bằng, công tâm; vô tư là không thiên tư, thiên
vị. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư có mối quan hệ biện chứng, gắn bó
mật thiết với nhau. Cần phải đi đôi với kiệm vì kiệm mà không cần thì không
tăng thêm, không phát triển. Liêm phải đi đôi với kiệm vì có kiệm mới liêm
được, nếu không sẽ sinh ra thói tham lam. Cần, kiệm, liêm là gốc của chính. Một
người cần, kiệm, liêm nhưng phải có chính mới là người hoàn toàn. Theo Người,
Nhân dân dù muốn tham nhũng cũng không thể, mà chỉ có thể tham ô, trong khi cán
bộ nắm quyền hành có điều kiện để tham nhũng. Thực hành đạo đức công vụ phải
tẩy sạch bệnh quan liêu, tham nhũng bằng việc mỗi cán bộ, công chức đều phải ra
sức thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Vì “Một dân tộc biết cần,
kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân
tộc văn minh tiến bộ”.
Có tinh thần
trách nhiệm và tính kỷ luật cao
Bất kỳ ai, ở
địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách
nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là “khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta
việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra
làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách
cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy,
v.v, là không có tinh thần trách nhiệm”.
Với quan điểm
nước lấy dân làm gốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trách nhiệm của cán bộ,
công chức là phải vì dân mà làm việc. Người cán bộ có trách nhiệm khi làm việc
dù gặp khó khăn, trở ngại thế nào đều nỗ lực vượt qua để hoàn thành tốt nhiệm
vụ. Cán bộ không chịu trách nhiệm trước Nhân dân, tức là không chịu trách nhiệm
trước Đảng và Chính phủ.
Trái với tinh
thần trách nhiệm là bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi.
Hồ Chí Minh cực lực phê phán thái độ đối với công việc: chỉ biết tổ chức hội
nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị, nói một đằng làm một nẻo, không lo phụng sự
Nhân dân, mà còn muốn Nhân dân phụng sự mình, trước mặt quần chúng thì lên mặt
“quan cách mạng”. Đó là nguyên nhân dẫn tới tham ô, lãng phí cần được loại bỏ.
Bên cạnh tinh
thần trách nhiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao tính kỷ luật của cán bộ, công
chức trong thực hành đạo đức công vụ. Người cho rằng, trước mặt quần chúng,
không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là được yêu mến. Mỗi cán bộ,
công chức, viên chức khi thi hành công vụ cần phải gương mẫu về đạo đức, tự
giác tuân thủ kỷ luật của cơ quan, giữ vững nền nếp công tác, tránh được những
cám dỗ; nghiêm túc thực hiện nội quy, kỷ luật, có tinh thần làm việc, ý thức
trách nhiệm, xử lý công việc một cách khoa học, công bằng và minh bạch; thật
thà sửa những lỗi thường gặp như lười biếng, kiêu ngạo, háo danh, hẹp hòi, hữu
danh vô thực… Có vậy, người cán bộ mới không ngừng hoàn thiện bản thân, đảm
đương được mọi trách nhiệm, phần việc mà cơ quan, tổ chức, đoàn thể và Nhân dân
giao phó.
Tích cực, chủ
động, sáng tạo trong thi hành công vụ
Đạo đức công
vụ trong Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ, công chức phải
nhận thức một cách khoa học, được biểu hiện bằng những hành động cụ thể. Theo
Người, “Quyết tâm không phải ở hội trường, ở lời nói, mà phải quyết tâm trong
công tác, trong hành động”. Khi nhận một nhiệm vụ trước Đảng, trước Nhân dân
phải thấy đó là sự ủy thác thiêng liêng, đem toàn tâm, toàn ý vào công tác, quyết
tâm hoàn thành nhiệm vụ. Trong mọi việc lớn hay nhỏ đều phải có quyết tâm làm
cho bằng được, làm có hiệu quả.
Chủ tịch Hồ
Chí Minh quan niệm: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét
dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho
dân, phải được dân tin cậy”. Người cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên phải
xác định làm việc để đem lại lợi ích cho đất nước, cho Nhân dân, hình thành ý
thức tích cực, tự giác, cầu tiến bộ. “Xã hội ngày càng tiến, công tác của ta
cũng phải ngày càng tiến... Vì vậy, năng lực của ta, sáng kiến của ta, tiến bộ
của ta cũng phải luôn luôn phát triển, tiến lên không ngừng. Không tiến, tức là
thoái”. Tinh thần cầu tiến bộ, học tập không ngừng là một yêu cầu không thể
thiếu đối với mỗi cán bộ, công chức, viên chức. Ngoài ra, cần phát huy sức sáng
tạo, tự lập, tự chủ trên tinh thần “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Sự
chủ động, sáng tạo biểu hiện ở việc ham học hỏi, tìm tòi, suy nghĩ thấu đáo vấn
đề phát sinh trong thực tiễn và công việc để tham mưu trúng, đúng, kịp thời các
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ đó, tìm
ra những cách làm hay, đem lại hiệu quả cao trong công việc; kịp thời phát hiện
những hạn chế trong chủ trương, chính sách để tham mưu, báo cáo sửa đổi, hoàn
thiện nhằm đưa chủ trương, chính sách đó đi vào cuộc sống. Đây là biểu hiện của
trách nhiệm song cũng thể hiện tư duy độc lập, sáng tạo của người cán bộ, công
chức đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cuộc sống.
Tinh thần đoàn
kết, thân ái, hợp tác với đồng chí, đồng nghiệp
Chủ tịch Hồ
Chí Minh đặc biệt coi trọng phát huy tinh thần đoàn kết trong tập thể, tổ chức.
Người cho rằng, nhờ có những cá nhân tốt thì tổ chức mới mạnh. Do đó, vì lợi
ích chung của tập thể mà mỗi cá nhân phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện mình
để gắn bó, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ. Đoàn kết, thân ái, hợp tác giúp đỡ
nhau chính là nhằm xây dựng tổ chức vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ cách
mạng đề ra cũng như nâng cao sức mạnh của mỗi người. Người căn dặn: “Đối với
đồng chí mình phải thế nào? Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều
dở. Học cái hay, sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau.
Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu
vị”. Nếu trong một tập thể mà các thành viên mất đoàn kết, cạnh tranh không
lành mạnh, đối phó, kèn cựa lẫn nhau sẽ “làm cho công tác bị tê liệt, hư hỏng”.
Thân ái, hợp
tác không phải là bao che khuyết điểm cho nhau, mà phải phê bình và tự phê
bình; tích cực đấu tranh với những biểu hiện cục bộ, chia rẽ, bè phái trong nội
bộ và những hành vi vi phạm kỷ luật trong thi hành công vụ. Xây dựng văn hóa
công sở trên tinh thần đoàn kết, hợp tác sẽ góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp
của cả tập thể, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác. Văn hóa công sở
chính là chuẩn mực đạo đức, là thước đo sự văn minh, tiến bộ của mỗi cán bộ,
công chức, người lao động.
Gắn bó mật
thiết với Nhân dân
Chủ tịch Hồ
Chí Minh đề cao tuyệt đối vai trò của Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Tinh
thần đó được thể hiện qua việc thực hành văn hóa trong Đảng, Nhà nước, trong
thể chế, bộ máy và hành vi của cán bộ, đảng viên, lấy Nhân dân làm trung tâm để
hoạch định mọi chủ trương, chính sách.
Muốn phát huy
được nguồn lực tài dân, sức dân để phục vụ sự nghiệp cách mạng đòi hỏi cán bộ,
đảng viên phải hòa mình với quần chúng, tin tưởng quần chúng, thấu hiểu, lắng
nghe ý kiến của quần chúng. Chỉ có dựa vào quần chúng mới hoàn thành được sứ
mệnh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Mọi suy
nghĩ và hành động của cán bộ, công chức phải đi đúng đường lối quần chúng: đặt
lợi ích của Nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với Nhân dân; cùng bàn bạc,
giải thích cho Nhân dân hiểu rõ; thật thà tự phê bình trước Nhân dân khi có
khuyết điểm, hoan nghênh Nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi Nhân dân; tự
mình làm gương cần, kiệm, liêm, chính để Nhân dân noi theo.
Bổn phận của
người cán bộ cách mạng là suốt đời hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ
Nhân dân… Phải gần gũi Nhân dân, học tập Nhân dân, vì gần gũi Nhân dân sẽ cảm
thông những khó khăn, gian khổ của Nhân dân, thấy rõ những gương anh hùng của
Nhân dân, giúp ta củng cố lập trường, trau dồi tư tưởng, từ đó có những hành
động, việc làm phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của Nhân
dân. Ngược lại, Nhân dân chính là “tai mắt” của Đảng. Cán bộ, đảng viên chịu sự
giám sát, phê bình của Nhân dân, do đó phải biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến góp
ý của Nhân dân để không ngừng hoàn thiện bản thân, trở thành người công bộc
gương mẫu, tận tụy, xứng đáng với trách nhiệm và sự tin cậy của Nhân dân.
Nền công vụ
Việt Nam được xây dựng trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh là một nền công vụ
dân chủ, thân dân, trọng dân, vì dân. Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ
và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với tinh thần đổi mới, hội
nhập và phát triển, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một nền công vụ
vì dân vẫn phát huy những giá trị phổ quát. Đó là đạo đức của nền hành chính
kiểu mới, thống nhất với chính trị, nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị.
Trong giai
đoạn hiện nay, thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính
trị, sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Đa số cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
trong sáng; có tinh thần trách nhiệm, chủ động, tự giác trong công tác; có mối
quan hệ gần gũi, gắn bó với Nhân dân, cơ bản đáp ứng được các yêu cầu, nhiệm vụ
công tác. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, vẫn còn một bộ phận cán bộ, công
chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; tính kỷ luật chưa nghiêm dẫn đến quyền
làm chủ của Nhân dân chưa được phát huy đầy đủ;... Đảng ta nhận định: “Tình
trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu,
những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn diễn biến
phức tạp”.
Có nhiều
nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên, trong đó nguyên nhân chính là do nhận
thức, năng lực, phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức,
đảng viên còn hạn chế; một số cấp ủy Đảng chưa quan tâm đúng mức đến công tác
giáo dục đạo đức công vụ và xử lý vi phạm đạo đức công vụ; chưa phát huy hết
vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
Đạo đức công
vụ không phải tự thân mà có, do đó mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải tích
cực tu dưỡng, rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức công vụ. Tinh thần phục vụ
Nhân dân cần được thấm sâu vào mọi hành động của cán bộ, công chức, viên chức
và phải thực hành suốt đời. Muốn vậy, cán bộ, công chức phải luôn nêu cao ý
thức tự giác, trách nhiệm đối với việc thực hành đạo đức công vụ; nhận thức đầy
đủ về tính chất, ý nghĩa, tầm quan trọng của công việc mình đang làm; xác định
bổn phận, trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân để tận tâm, tận lực
làm tròn phần việc được giao.
Để có được
nhận thức đúng đắn đó, người cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên cần nắm
vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghĩa
là người cán bộ, công chức, viên chức phải nghiên cứu, hiểu thấu, thấm nhuần sự
chỉ đạo trên tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội để giải thích, tuyên truyền,
cổ động Nhân dân thực hành. Phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, tham nhũng,
lãng phí, quan liêu.
Tiếp tục đẩy
mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với
đặc thù của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Phát huy sức sống lâu bền và giá
trị vượt thời đại của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đó là sự kết
hợp hài hòa giữa tư tưởng đạo đức truyền thống và hiện đại, của dân tộc và nhân
loại, để trở thành một chân dung bình dị mà vĩ đại, mẫu mực, sáng ngời cho
người cán bộ cách mạng học tập và noi theo. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh phải trở thành động lực tinh thần thúc đẩy người cán bộ, công chức
thấm nhuần chuẩn mực đạo đức cách mạng, khao khát hành động với trách nhiệm và
lương tâm của một người cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên chân chính.
Tăng cường
kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò của Nhân dân trong kiểm tra, giám sát
việc thực hiện đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên.
Hoạt động kiểm tra, giám sát về việc thực hiện đạo đức công vụ cần được tiến
hành thường xuyên, bằng các hình thức, phương pháp phù hợp. Thông qua kiểm tra,
giám sát, kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng những cách làm hay, ý tưởng
sáng tạo, hiệu quả trong thực thi công vụ và chấn chỉnh hành vi sai lệch với chuẩn
mực đạo đức công vụ.
Xây dựng đội
ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ mới trở thành một
nhiệm vụ trọng tâm đối với các cấp ủy đảng, chính quyền và cả hệ thống chính
trị, góp phần tạo ra một nền công vụ chuyên nghiệp, gọn nhẹ, minh bạch phục vụ
sự phát triển của mỗi địa phương.
Trần Văn Cường
Trung tâm Chính trị xã Đông Giang